SƠ LƯỢC NGUỒN GỐC PHƯƠNG PHÁP TRƯỜNG CHÂM XUYÊN HUYỆT
Trong lĩnh vực châm cứu có một chuyên gia nổi tiếng Thế giới được mệnh danh là Thần Châm đó là Giáo sư Y học Vương Tu Thân, người dân tộc Mãn Châu, Trung hoa, gia đình ông có tới 4 đời hành nghề y dược, ông nội và thân phụ là ngự y trong Triều đình Nhà Thanh, từ nhỏ ông đã làm quen với nghề bốc thuốc và châm cứu, ông đã theo ông nội và cha đi khắp các nơi trong nước hành nghề bốc thuốc châm cứu trị bệnh cứu người.
Ngay từ khi mới thành lập Viện Nghiên Cứu Châm Cứu trực thuộc Viện Hàn Lâm Khoa Học Trung Quốc, Giáo sư Vương Tu Thân đã được mời về tham gia công tác thừa kế và phát triển nền y học cổ truyền, đặc biệt là bộ môn châm cứu.
Với phương pháp kỹ thuật độc đáo gia truyền kết hợp với khoa học hiện đại và quá trình khổ luyện của bản thân, giáo sư Vương Tu Thân đã phát hiện và tìm thấy một số huyệt mới mà sử sách cổ kim của châm cứu chưa hề nói đến.
Qua nghiên cứu và thử nghiệm nhiều lần trên cơ thể của bản thân mình và kết hợp áp dụng lâm sàng, giáo sư Vương đã đúc kết và đưa ra một số phác đồ châm cứu mới đặc sắc điều trị các bệnh nan y. Trước khi điều trị cho bệnh nhân giáo sư đều châm thử trên cơ thể mình để tìm ra cảm giác và đánh giá hiệu quả của các huyệt đã sử dụng rồi mới điều trị cho bệnh nhân.
Ông đã áp dụng những phác đồ châm cứu mới do ông dầy công nghiên cứu trong mấy chục năm điều trị hiệu quả các chứng bệnh nan y cho hàng chục ngàn bệnh nhân trong và ngoài nước như:
1. Thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm, gai đốt sống
2. Chấn thương do tai nạn
3. Tắc nghẽn mạch máu não
4. Cấm khẩu
5. Teo cơ, liệt nửa người
6. Bệnh phong tê thấp, viêm khớp
7. Bệnh u máu ở não
8. Bệnh viêm kết mạc
9. Chứng teo não
10. Viêm tắc tĩnh mạch
11. Viêm quanh khớp bả vai
12. Bệnh trẻ em bại liệt.
Thần châm Vương Tu Thân đã cống hiến vô điều kiện kiến thức bí truyền cùng những tích lũy vô giá của mình cho đồng nghiệp cùng thế hệ mai sau.
NHỮNG QUY TẮC THIẾT YẾU TRONG CHÂM CỨU
1. Phải nghiêm túc, mạnh dạn, tỷ mỉ, vững tay khi tiến hành thủ thuật châm.
2. Phải đề cao Y đức, y đạo, y thuật, lấy trị bệnh cứu người làm gốc.
3.Thận trọng khi dùng huyệt và phối huyệt: Muốn châm khỏi bệnh cho người buộc phải châm cho mình trước để tìm ra cảm giác và đánh giá hiệu quả rồi mới châm cho bệnh nhân.
4. Chọn huyệt phải đúng, phải tinh, phải chính xác, khi châm kim phải chuẩn, phải mạnh dạn mạnh tay, phải có được cảm giác kim hút vào rất mạnh và cảm giác kim rung rất mạnh.
5. Khi tiến hành châm cứu cho bệnh nhân thì người thầy thuốc phải tập chung tư tưởng cao độ vào công việc đang làm của mình, tuyệt đối không hút thuốc, không uống rượu, không nói chuyện riêng nhất là không nói những lời nói gở và bất lợi ảnh hưởng đến kết quả điều trị .
NHỮNG HUYỆT CHÂM XUYÊN THƯỜNG DÙNG
1. Huyệt hành gian xuyên huyệt Dũng tuyền.(gọi là Hành gian – Dũng tuyền)
2. Huyệt Huyền chung xuyên huyệt Dương lăng tuyền hoặc xuyên huyệt Dương bạch, huyệt Quang minh, huyệt Kỷ sử. Như vậy nhóm huyệt này có thể châm xuyên tới 4 huyệt khác nhau.
(gọi là Huyền chung – Dương lăng tuyền. Huyền chung – Dương bạch. Huyền chung – Quang minh. Huyền chung – Kỷ sử).
3. Huyệt Trung chử xuyên huyệt Huyết hải.(Thường gọi là Trung chử – Huyết hải).
– Lưu ý: Nhóm huyệt này sau khi châm xuyên huyệt yêu cầu xuyên thẳng không vê kim như thường hay làm trong châm cứu mà thay vào đó bằng phương pháp kéo đi kéo lại (còn gọi là kéo cưa thẳng)
4. Huyệt Dương lăng tuyền xuyên huyệt Âm lăng tuyền hoặc huyệt Thừa sơn.(Thường gọi là Dương lăng tuyền – Âm lăng tuyền. Dương lăng tuyền – Thừa sơn).
– Lưu ý: Nhóm huyệt này khi châm xuyên xong không vê kim thay vào đó bằng phương pháp kéo cưa mà phải kéo chéo.
5. Huyệt Hợp cốc xuyên huyệt hậu khê hoặc xuyên huyệt Lao cung (Thường gọi là Hợp cốc – Hậu khê, Hợp cốc – Lao cung).
6. Huyệt Nội quan xuyên huyệt Ngoại quan. (Thường gọi là Nội quan – Ngoại quan)
7. Huyệt khúc trì xuyên huyệt Thiếu hải hoặc Thủ tam lý. (Thường gọi là Khúc trì – Thiếu hải, Khúc trì – Thủ tam lý).
8. Huyệt Nhuận trì xuyên huyệt Nhu hội hoặc ngược lại. (gọi là Nhuận trì – Nhu hội, Nhu hội – Nhuận trì).
Lưu ý: Nhóm huyệt này khi châm không vê kim mà bằng thủ thuật kéo cưa như đã trình bầy.
9. Huyệt Nội Độc tỵ xuyên huyệt Ngoại độc tỵ (Thường gọi là Nội độc tỵ – Ngoại độc tỵ).
– Lưu ý: Nhóm huyệt này khi châm không vê kim mà bằng thủ thuật kéo cưa như đã trình bầy.
10. Huyệt Phong trì tả xuyên huyệt Phong trì Hữu. (Thường gọi là huyệt Phong trì tả – huyệt Phong trì hữu).
– Lưu ý: Nhóm huyệt này cũng bằng thủ thuật kéo cưa rất có hiệu quả trong điều trị các bệnh của đốt sống cổ.
11. Huyệt Địa thương xuyên huyệt Giáp xa. (gọi là Địa thương – Giáp xa).
– Lưu ý: Nhóm huyệt này cũng dùng thủ thuật kéo cưa, rất có hiệu quả trong điều trị bệnh liệt nửa bên mặt (liệt dây thần kinh số 5 ở mặt).
12. Huyệt Thiên đột xuyên huyệt Ngọc đường. (Thường gọi là Thiên đột Ngọc đường).
– Lưu ý: nhóm huyệt này khi châm thường châm xuyên chéo.
13. Huyệt Ủy trung xuyên huyệt Thừa sơn. (gọi là Ủy trung – Thừa sơn).
– Lưu ý: Nhóm huyệt này khi châm thường châm xuyên chéo.
14. Huyệt Lương khưu xuyên huyệt Tỳ quán hay ngược lại. (gọi là Lương khưu – Tỳ quán; Tỳ quán – Lương khưu).
15. Huyệt Tố liêu tả xuyên huyệt Tố liêu hữu.(gọi là huyệt Tố liêu tả – Tố liêu hữu ).
Nhóm huyệt này rất tác dụng trong điều trị các chứng: Tâm thần phân liệt; liệt nửa bên mặt, méo mồm.
16. Huyệt Đại nghênh tả xuyên huyệt Đại nghênh hữu. (gọi là huyệt Đại nghênh tả – Đại nghênh hữu)
Nhóm huyệt này rất có tác dụng trong điều trị hỗ trợ.
17. Huyệt Côn lôn xuyên huyệt Chiếu hải. (gọi là huyệt Côn lôn – Chiếu hải).
Nhóm huyệt này có kết quả nổi bật trong điều trị các chứng đau do vôi hóa đốt sống lưng, đau lưng và đau thận.
KỸ THUẬT BÍ TRUYỀN TRONG CHÂM CỨU
1. Thiệt châm
– Phương pháp này dùng để chữa trị các chứng như: Mất tiếng, lời nói không rõ, teo lưỡi. Có hai phương pháp châm:
+ Phương pháp thứ nhất là dùng kim châm chích trên mặt lưỡi, mỗi lần chích từ 40 – 50 nhát, sau đó châm dưới lưỡi 3 kim, giữa một kim hai bên mỗi bên một kim, châm sâu một tấc, phương pháp này Mãn châu gọi là “châm chích lưỡi”
+ Phương pháp thứ hai gọi là châm ở huyệt phát âm huyệt này nằm ở giữa bên dưới lưỡi và châm hỗ trợ ở hai bên cạnh của huyệt phát âm, hai huyệt này được gọi là huyệt Âm hưởng, cả hai huyệt này không thấy ghi trong sử sách của chân cứu.
Nếu sử dụng hai huyệt này để trị các bệnh kể trên thì phải châm huyệt âm hưởng trước rồi mới châm huyệt phát âm, tiếp đó châm 03 huyệt dưới lưỡi sau cùng mới châm chích mặt lưỡi, khi hoàn thành các thủ thuật này yêu cầu bệnh nhân ngậm miệng tại chỗ chờ máu độc và dịch độc ở lưỡi chảy ra. Khi thấy có máu độc và dịch độc chảy ra cho bệnh nhân nhổ máu độc và dịch độc không được nhuốt vào bụng, thường chỉ sau một ngày châm bệnh nhân có thể nói được hoặc bệnh tình có thể thuyên giảm.
– Phương pháp châm huyệt du:
Cách châm: châm ở phần giữa nửa nhãn cầu vào thẳng đáy mắt, chủ yếu để điều trị các bệnh ở đáy mắt như bệnh xuất huyết ở đáy mắt, bệnh quáng gà, bệnh thanh manh, lác mắt, sụp mí mắt, cận thị, thị lực kém…
– Phương pháp châm huyệt Quán thông (xuyên )Du huyệt:
Cách châm: Dùng kim dài châm từ huyệt phế du xuyên thẳng đến tận huyệt Thận du, nhóm huyệt này có thể chữa trị các chứng như đau lung; đau tức ngực; đau thần kinh liên xườn…
2. Phương pháp châm xuyên nhóm huyệt Ngũ long ở đốt sống :
Phương pháp châm này không thấy ghi trong sử sách của châm cứu. Nhóm huyệt này gồm 5 huyệt, 02 huyệt của
Phong môn, 02 huyệt của Khuất âm du, riêng huyệt Thân trụ chỉ có 01 huyệt, dân tộc Mãn châu gọi là huyệt ngũ long. Nhóm huyệt này rất có hiệu quả chữa trị các chứng bệnh đau lưng như đau do chệch đĩa đệm cột sống, đau do lao tổn cơ thắt lưng; đau lưng và đau chân không rõ nguyên nhân.
3. Phương pháp châm xuyên nhóm huyệt Ngũ Long ở đốt sống thắt lưng:
Nhóm huyệt này gồm 05 huyệt, 02 huyệt của Tam tiêu du; 02 huyệt của Đại tràng du, riêng huyệt Mệnh môn chỉ có 01 huyệt, chữa trị những chứng bệnh như nhóm huyệt ngũ long ở đốt sống ngực mà trên đã trình bày.
4. Phương pháp kéo kim (hay còn gọi là phương pháp kéo cưa trong châm cứu – kéo đi kéo lại kim châm như kéo cưa thay cho phương pháp vê kim):
Là dùng loại kim dài có chiều dài 45 cm châm xuyên qua hai huyệt mà không vê kim thay vào đó bằng phương pháp kéo kim thẳng đi thẳng lại nhiều lần hoặc kéo kim chéo đi chéo lại nhiều lần nhằm đạt mục đích kích thích mạnh vào thần kinh vùng đó để giãn cơ, hồi phục các chức năng bị tổn thương, rất có hiệu quả trong chữa trị các chứng teo cơ, liệt nửa người, đay thần kinh tọa, bệnh vôi hóa cột sống.
5. Phương pháp châm chéo:
Là châm chéo từ huyệt này sang huyệt kia.
6. Phương pháp song kim và đa kim (Phương pháp châm hai kim song song với nhau và phương pháp châm nhiều kim):
Là phương pháp châm hai kim ở một huyệt hoặc nhiều kim ở một huyệt nhằm mục đích kích thích mạnh huyệt ấy để mau đạt kết quả điều trị.
7. Phương pháp giảm kim:
Là phương pháp chỉ dùng một kim châm cho một huyệt mà có thể chữa khỏi nhiều bệnh, như trường hợp đau răng không ăn không ngủ được, không há nổi miệng, không nói được chỉ châm một mũi kim, rút kim ra bệnh nhân hết đau và có thể mở miệng và nói được. Phương pháp này thường hay dùng cho những bệnh nhân sợ đau, sợ châm nhiều kim, vậy có thể chỉ dùng một kim hoặc rất ít kim mà có thể chữa được bệnh.
8. Phương pháp tốc châm:
Phương pháp này chủ yếu dùng cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ tuổi mắc các chứng bệnh như đau bụng, chứng phát triển não bộ chưa hoàn chỉnh, chứng khóc đêm, chứng hay giật mình vv… phương pháp châm này không lưu kim, châm nhanh và rút kim cũng nhanh.
9. Dụng cụ châm cứu:
Dụng cụ châm cứu (kim châm) của Mãn y có tới 50% khác với dụng cụ châm cứu (kim châm) thông thường, Kim châm của Mãn y có các loại chiều dài khác nhau như một loại kim 01 thốn, loại 1,5 thốn, loại 8 thốn, loại 1 thước hai thốn. về hình dáng của kim ngoài loại kim tròn, kim dẹt còn có loại kim cán có 3 nấc, khi sử dụng phải căn cứ vào tình hình bệnh để chọn loại kim thích hợp.
10. Khử trùng dụng cụ châm cứu:
Ngày nay do các loại bệnh hiểm nghèo ngày đêm rình rập bên ta như bệnh HIV, bệnh viêm gan siêu vi B, Bệnh ở đường tình dục..vv…để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho bệnh nhân, để đề phòng lây chéo, tất cả dụng cụ châm cứu đều phải được khử trùng.
Do kim châm cứu của Mãn y rất ít người chuyên sản xuất loại kim này cho nên thời gian khử trùng không dưới 20 phút bằng phương pháp hấp nhiệt độ cao. Tất nhiên với trình độ khoa học kỹ thuật phát triển. Hiện nay đã có một số cơ sở đã và đang sản xuất ra loại kim chỉ dùng một lần, nhưng không đạt yêu cầu của Mãn châu như trên đã trình bày vì kim châm của Mãn y yêu cầu vừa dài, vừa nhỏ, lại vừa dẻo, cán kim 3 nấc vì thế phải sát trùng để tái sử dụng.
Ngoài tẩy hấp ra khi dùng còn phải sát trùng ở huyệt và kim bằng cồn 90 mới dùng để châm cho bệnh nhân. Lưu ý châm xuyên hở khi nhìn thấy kim xuyên xang huyệt bên kia thì phần hở cũng phải kịp thời dùng cồn 900 sát trùng phần hở của kim và sát trùng huyệt châm mục đích là phòng chống lây chéo nhiễm trùng.
Để phòng ngừa và điều trị bệnh hiệu quả chúng tôi khuyến khích người bệnh sử dụng sản phẩm Kim Châm Cứu Vô Trùng dùng một lần ARLO Khánh Phong sẽ mang lại hiệu quả tốt nhất mà không gây tác dụng phụ, biến chứng nguy hiểm và dễ dàng sử dụng
✔ Sử dụng luôn
✔ Không mất thời gian tiệt trùng
✔ Đảm bảo an toàn khi châm cứu.
****************
Mọi chi tiết xin liên hệ:
CÔNG TY CP XNK KHÁNH PHONG
Số 15, ngõ 2 Nhân Hòa, P. Nhân Chính, Q.Thanh Xuân, HN
Văn phòng giao dịch: Số 60 - Nhân Hòa - Nhân Chính - Thanh Xuân - Hà Nội
ĐT: 0435574351 - FAX: 0435579904
Web: https://khanhphong.com
Facebook: https://goo.gl/I9XoiT
Trong lĩnh vực châm cứu có một chuyên gia nổi tiếng Thế giới được mệnh danh là Thần Châm đó là Giáo sư Y học Vương Tu Thân, người dân tộc Mãn Châu, Trung hoa, gia đình ông có tới 4 đời hành nghề y dược, ông nội và thân phụ là ngự y trong Triều đình Nhà Thanh, từ nhỏ ông đã làm quen với nghề bốc thuốc và châm cứu, ông đã theo ông nội và cha đi khắp các nơi trong nước hành nghề bốc thuốc châm cứu trị bệnh cứu người.
Ngay từ khi mới thành lập Viện Nghiên Cứu Châm Cứu trực thuộc Viện Hàn Lâm Khoa Học Trung Quốc, Giáo sư Vương Tu Thân đã được mời về tham gia công tác thừa kế và phát triển nền y học cổ truyền, đặc biệt là bộ môn châm cứu.
Với phương pháp kỹ thuật độc đáo gia truyền kết hợp với khoa học hiện đại và quá trình khổ luyện của bản thân, giáo sư Vương Tu Thân đã phát hiện và tìm thấy một số huyệt mới mà sử sách cổ kim của châm cứu chưa hề nói đến.
Qua nghiên cứu và thử nghiệm nhiều lần trên cơ thể của bản thân mình và kết hợp áp dụng lâm sàng, giáo sư Vương đã đúc kết và đưa ra một số phác đồ châm cứu mới đặc sắc điều trị các bệnh nan y. Trước khi điều trị cho bệnh nhân giáo sư đều châm thử trên cơ thể mình để tìm ra cảm giác và đánh giá hiệu quả của các huyệt đã sử dụng rồi mới điều trị cho bệnh nhân.
Phương pháp Trường châm xuyên huyệt
1. Thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm, gai đốt sống
2. Chấn thương do tai nạn
3. Tắc nghẽn mạch máu não
4. Cấm khẩu
5. Teo cơ, liệt nửa người
6. Bệnh phong tê thấp, viêm khớp
7. Bệnh u máu ở não
8. Bệnh viêm kết mạc
9. Chứng teo não
10. Viêm tắc tĩnh mạch
11. Viêm quanh khớp bả vai
12. Bệnh trẻ em bại liệt.
Thần châm Vương Tu Thân đã cống hiến vô điều kiện kiến thức bí truyền cùng những tích lũy vô giá của mình cho đồng nghiệp cùng thế hệ mai sau.
NHỮNG QUY TẮC THIẾT YẾU TRONG CHÂM CỨU
1. Phải nghiêm túc, mạnh dạn, tỷ mỉ, vững tay khi tiến hành thủ thuật châm.
2. Phải đề cao Y đức, y đạo, y thuật, lấy trị bệnh cứu người làm gốc.
3.Thận trọng khi dùng huyệt và phối huyệt: Muốn châm khỏi bệnh cho người buộc phải châm cho mình trước để tìm ra cảm giác và đánh giá hiệu quả rồi mới châm cho bệnh nhân.
4. Chọn huyệt phải đúng, phải tinh, phải chính xác, khi châm kim phải chuẩn, phải mạnh dạn mạnh tay, phải có được cảm giác kim hút vào rất mạnh và cảm giác kim rung rất mạnh.
5. Khi tiến hành châm cứu cho bệnh nhân thì người thầy thuốc phải tập chung tư tưởng cao độ vào công việc đang làm của mình, tuyệt đối không hút thuốc, không uống rượu, không nói chuyện riêng nhất là không nói những lời nói gở và bất lợi ảnh hưởng đến kết quả điều trị .
Phương pháp Trường châm xuyên huyệt
NHỮNG HUYỆT CHÂM XUYÊN THƯỜNG DÙNG
1. Huyệt hành gian xuyên huyệt Dũng tuyền.(gọi là Hành gian – Dũng tuyền)
2. Huyệt Huyền chung xuyên huyệt Dương lăng tuyền hoặc xuyên huyệt Dương bạch, huyệt Quang minh, huyệt Kỷ sử. Như vậy nhóm huyệt này có thể châm xuyên tới 4 huyệt khác nhau.
(gọi là Huyền chung – Dương lăng tuyền. Huyền chung – Dương bạch. Huyền chung – Quang minh. Huyền chung – Kỷ sử).
3. Huyệt Trung chử xuyên huyệt Huyết hải.(Thường gọi là Trung chử – Huyết hải).
– Lưu ý: Nhóm huyệt này sau khi châm xuyên huyệt yêu cầu xuyên thẳng không vê kim như thường hay làm trong châm cứu mà thay vào đó bằng phương pháp kéo đi kéo lại (còn gọi là kéo cưa thẳng)
4. Huyệt Dương lăng tuyền xuyên huyệt Âm lăng tuyền hoặc huyệt Thừa sơn.(Thường gọi là Dương lăng tuyền – Âm lăng tuyền. Dương lăng tuyền – Thừa sơn).
– Lưu ý: Nhóm huyệt này khi châm xuyên xong không vê kim thay vào đó bằng phương pháp kéo cưa mà phải kéo chéo.
5. Huyệt Hợp cốc xuyên huyệt hậu khê hoặc xuyên huyệt Lao cung (Thường gọi là Hợp cốc – Hậu khê, Hợp cốc – Lao cung).
6. Huyệt Nội quan xuyên huyệt Ngoại quan. (Thường gọi là Nội quan – Ngoại quan)
7. Huyệt khúc trì xuyên huyệt Thiếu hải hoặc Thủ tam lý. (Thường gọi là Khúc trì – Thiếu hải, Khúc trì – Thủ tam lý).
8. Huyệt Nhuận trì xuyên huyệt Nhu hội hoặc ngược lại. (gọi là Nhuận trì – Nhu hội, Nhu hội – Nhuận trì).
Lưu ý: Nhóm huyệt này khi châm không vê kim mà bằng thủ thuật kéo cưa như đã trình bầy.
9. Huyệt Nội Độc tỵ xuyên huyệt Ngoại độc tỵ (Thường gọi là Nội độc tỵ – Ngoại độc tỵ).
– Lưu ý: Nhóm huyệt này khi châm không vê kim mà bằng thủ thuật kéo cưa như đã trình bầy.
10. Huyệt Phong trì tả xuyên huyệt Phong trì Hữu. (Thường gọi là huyệt Phong trì tả – huyệt Phong trì hữu).
– Lưu ý: Nhóm huyệt này cũng bằng thủ thuật kéo cưa rất có hiệu quả trong điều trị các bệnh của đốt sống cổ.
11. Huyệt Địa thương xuyên huyệt Giáp xa. (gọi là Địa thương – Giáp xa).
– Lưu ý: Nhóm huyệt này cũng dùng thủ thuật kéo cưa, rất có hiệu quả trong điều trị bệnh liệt nửa bên mặt (liệt dây thần kinh số 5 ở mặt).
12. Huyệt Thiên đột xuyên huyệt Ngọc đường. (Thường gọi là Thiên đột Ngọc đường).
– Lưu ý: nhóm huyệt này khi châm thường châm xuyên chéo.
13. Huyệt Ủy trung xuyên huyệt Thừa sơn. (gọi là Ủy trung – Thừa sơn).
– Lưu ý: Nhóm huyệt này khi châm thường châm xuyên chéo.
14. Huyệt Lương khưu xuyên huyệt Tỳ quán hay ngược lại. (gọi là Lương khưu – Tỳ quán; Tỳ quán – Lương khưu).
15. Huyệt Tố liêu tả xuyên huyệt Tố liêu hữu.(gọi là huyệt Tố liêu tả – Tố liêu hữu ).
Nhóm huyệt này rất tác dụng trong điều trị các chứng: Tâm thần phân liệt; liệt nửa bên mặt, méo mồm.
16. Huyệt Đại nghênh tả xuyên huyệt Đại nghênh hữu. (gọi là huyệt Đại nghênh tả – Đại nghênh hữu)
Nhóm huyệt này rất có tác dụng trong điều trị hỗ trợ.
17. Huyệt Côn lôn xuyên huyệt Chiếu hải. (gọi là huyệt Côn lôn – Chiếu hải).
Nhóm huyệt này có kết quả nổi bật trong điều trị các chứng đau do vôi hóa đốt sống lưng, đau lưng và đau thận.
Phương pháp Trường châm xuyên huyệt
KỸ THUẬT BÍ TRUYỀN TRONG CHÂM CỨU
1. Thiệt châm
– Phương pháp này dùng để chữa trị các chứng như: Mất tiếng, lời nói không rõ, teo lưỡi. Có hai phương pháp châm:
+ Phương pháp thứ nhất là dùng kim châm chích trên mặt lưỡi, mỗi lần chích từ 40 – 50 nhát, sau đó châm dưới lưỡi 3 kim, giữa một kim hai bên mỗi bên một kim, châm sâu một tấc, phương pháp này Mãn châu gọi là “châm chích lưỡi”
+ Phương pháp thứ hai gọi là châm ở huyệt phát âm huyệt này nằm ở giữa bên dưới lưỡi và châm hỗ trợ ở hai bên cạnh của huyệt phát âm, hai huyệt này được gọi là huyệt Âm hưởng, cả hai huyệt này không thấy ghi trong sử sách của chân cứu.
Nếu sử dụng hai huyệt này để trị các bệnh kể trên thì phải châm huyệt âm hưởng trước rồi mới châm huyệt phát âm, tiếp đó châm 03 huyệt dưới lưỡi sau cùng mới châm chích mặt lưỡi, khi hoàn thành các thủ thuật này yêu cầu bệnh nhân ngậm miệng tại chỗ chờ máu độc và dịch độc ở lưỡi chảy ra. Khi thấy có máu độc và dịch độc chảy ra cho bệnh nhân nhổ máu độc và dịch độc không được nhuốt vào bụng, thường chỉ sau một ngày châm bệnh nhân có thể nói được hoặc bệnh tình có thể thuyên giảm.
– Phương pháp châm huyệt du:
Cách châm: châm ở phần giữa nửa nhãn cầu vào thẳng đáy mắt, chủ yếu để điều trị các bệnh ở đáy mắt như bệnh xuất huyết ở đáy mắt, bệnh quáng gà, bệnh thanh manh, lác mắt, sụp mí mắt, cận thị, thị lực kém…
– Phương pháp châm huyệt Quán thông (xuyên )Du huyệt:
Cách châm: Dùng kim dài châm từ huyệt phế du xuyên thẳng đến tận huyệt Thận du, nhóm huyệt này có thể chữa trị các chứng như đau lung; đau tức ngực; đau thần kinh liên xườn…
2. Phương pháp châm xuyên nhóm huyệt Ngũ long ở đốt sống :
Phương pháp châm này không thấy ghi trong sử sách của châm cứu. Nhóm huyệt này gồm 5 huyệt, 02 huyệt của
Phong môn, 02 huyệt của Khuất âm du, riêng huyệt Thân trụ chỉ có 01 huyệt, dân tộc Mãn châu gọi là huyệt ngũ long. Nhóm huyệt này rất có hiệu quả chữa trị các chứng bệnh đau lưng như đau do chệch đĩa đệm cột sống, đau do lao tổn cơ thắt lưng; đau lưng và đau chân không rõ nguyên nhân.
3. Phương pháp châm xuyên nhóm huyệt Ngũ Long ở đốt sống thắt lưng:
Nhóm huyệt này gồm 05 huyệt, 02 huyệt của Tam tiêu du; 02 huyệt của Đại tràng du, riêng huyệt Mệnh môn chỉ có 01 huyệt, chữa trị những chứng bệnh như nhóm huyệt ngũ long ở đốt sống ngực mà trên đã trình bày.
4. Phương pháp kéo kim (hay còn gọi là phương pháp kéo cưa trong châm cứu – kéo đi kéo lại kim châm như kéo cưa thay cho phương pháp vê kim):
Là dùng loại kim dài có chiều dài 45 cm châm xuyên qua hai huyệt mà không vê kim thay vào đó bằng phương pháp kéo kim thẳng đi thẳng lại nhiều lần hoặc kéo kim chéo đi chéo lại nhiều lần nhằm đạt mục đích kích thích mạnh vào thần kinh vùng đó để giãn cơ, hồi phục các chức năng bị tổn thương, rất có hiệu quả trong chữa trị các chứng teo cơ, liệt nửa người, đay thần kinh tọa, bệnh vôi hóa cột sống.
5. Phương pháp châm chéo:
Là châm chéo từ huyệt này sang huyệt kia.
6. Phương pháp song kim và đa kim (Phương pháp châm hai kim song song với nhau và phương pháp châm nhiều kim):
Là phương pháp châm hai kim ở một huyệt hoặc nhiều kim ở một huyệt nhằm mục đích kích thích mạnh huyệt ấy để mau đạt kết quả điều trị.
7. Phương pháp giảm kim:
Là phương pháp chỉ dùng một kim châm cho một huyệt mà có thể chữa khỏi nhiều bệnh, như trường hợp đau răng không ăn không ngủ được, không há nổi miệng, không nói được chỉ châm một mũi kim, rút kim ra bệnh nhân hết đau và có thể mở miệng và nói được. Phương pháp này thường hay dùng cho những bệnh nhân sợ đau, sợ châm nhiều kim, vậy có thể chỉ dùng một kim hoặc rất ít kim mà có thể chữa được bệnh.
8. Phương pháp tốc châm:
Phương pháp này chủ yếu dùng cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ tuổi mắc các chứng bệnh như đau bụng, chứng phát triển não bộ chưa hoàn chỉnh, chứng khóc đêm, chứng hay giật mình vv… phương pháp châm này không lưu kim, châm nhanh và rút kim cũng nhanh.
9. Dụng cụ châm cứu:
Dụng cụ châm cứu (kim châm) của Mãn y có tới 50% khác với dụng cụ châm cứu (kim châm) thông thường, Kim châm của Mãn y có các loại chiều dài khác nhau như một loại kim 01 thốn, loại 1,5 thốn, loại 8 thốn, loại 1 thước hai thốn. về hình dáng của kim ngoài loại kim tròn, kim dẹt còn có loại kim cán có 3 nấc, khi sử dụng phải căn cứ vào tình hình bệnh để chọn loại kim thích hợp.
10. Khử trùng dụng cụ châm cứu:
Ngày nay do các loại bệnh hiểm nghèo ngày đêm rình rập bên ta như bệnh HIV, bệnh viêm gan siêu vi B, Bệnh ở đường tình dục..vv…để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho bệnh nhân, để đề phòng lây chéo, tất cả dụng cụ châm cứu đều phải được khử trùng.
Do kim châm cứu của Mãn y rất ít người chuyên sản xuất loại kim này cho nên thời gian khử trùng không dưới 20 phút bằng phương pháp hấp nhiệt độ cao. Tất nhiên với trình độ khoa học kỹ thuật phát triển. Hiện nay đã có một số cơ sở đã và đang sản xuất ra loại kim chỉ dùng một lần, nhưng không đạt yêu cầu của Mãn châu như trên đã trình bày vì kim châm của Mãn y yêu cầu vừa dài, vừa nhỏ, lại vừa dẻo, cán kim 3 nấc vì thế phải sát trùng để tái sử dụng.
Ngoài tẩy hấp ra khi dùng còn phải sát trùng ở huyệt và kim bằng cồn 90 mới dùng để châm cho bệnh nhân. Lưu ý châm xuyên hở khi nhìn thấy kim xuyên xang huyệt bên kia thì phần hở cũng phải kịp thời dùng cồn 900 sát trùng phần hở của kim và sát trùng huyệt châm mục đích là phòng chống lây chéo nhiễm trùng.
Nguồn: dongydaiviet.com
_______________________________________________Để phòng ngừa và điều trị bệnh hiệu quả chúng tôi khuyến khích người bệnh sử dụng sản phẩm Kim Châm Cứu Vô Trùng dùng một lần ARLO Khánh Phong sẽ mang lại hiệu quả tốt nhất mà không gây tác dụng phụ, biến chứng nguy hiểm và dễ dàng sử dụng
✔ Sử dụng luôn
✔ Không mất thời gian tiệt trùng
✔ Đảm bảo an toàn khi châm cứu.
****************
Mọi chi tiết xin liên hệ:
CÔNG TY CP XNK KHÁNH PHONG
Số 15, ngõ 2 Nhân Hòa, P. Nhân Chính, Q.Thanh Xuân, HN
Văn phòng giao dịch: Số 60 - Nhân Hòa - Nhân Chính - Thanh Xuân - Hà Nội
ĐT: 0435574351 - FAX: 0435579904
Web: https://khanhphong.com
Facebook: https://goo.gl/I9XoiT
0 nhận xét:
Đăng nhận xét